Trong những năm 1992-1993, ngành công nghiệp dầu khí đã phát hiện ra 2 mỏ khí không đồng hành là Lan Tây & Lan Đỏ tài lô 06.1 (trong một phần khu vực bể Nam Côn Sơn cách Vũng Tàu 370 km) . Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu bước ngoặt mở ra triển vọng, cơ hội rất lớn trong việc hình thành ngành công nghiệp khai thác khí quốc gia, chế biến và sử dụng khí vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Ngay sau khi được phát hiện, hai mỏ khí này đã được tiến hành thẩm định một cách cụ thể. Ủy ban đánh giá trữ lượng của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã chính thức xác nhận trữ lượng của 2 mỏ khí này là khoảng 58 tỷ m3. Hội đồng quản trị Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam và Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư, đã đệ trình lên Thủ Tướng Chính phủ Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2471 QĐ-TTG ngày 22/3/2000.
Việc phát hiện các trữ lượng khí không đồng hành ở Lô 06.1 thuộc bể Nam Côn Sơn mở ra một cơ hội rất lớn trong việc hình thành và phát triển ngành công nghiệp khí quốc gia, thúc đẩy công nghiệp phát triển và đóng góp đáng kể cho sự phồn thịnh của đất nước . Phát triển khí ở Lô 06.1 sẽ tạo ra 12 tỷ Kwh điện mỗi năm, tương đương với hơn 60% nhu cầu hiện tại của cả nước.
Ngoài việc thúc đẩy ngành công nghiệp khí đất và đảm bảo nguồn cung cấp điện, việc phát triển Lô 06.1 sẽ đem lại những lợi ích trực tiếp thông qua đầu tư, chuyển giao công nghệ, tạo công ăn việc làm, thay thế hàng nhập khẩu và bảo vệ môi sinh.
Lợi ích của khí thiên nhiên, một nhiên liệu sạch và tiện lợi, đã được minh chứng ở nhiều nước trên thế giới. Khí được lựa chọn như một nhiên liệu lý tưởng cho ngành sản xuất điện năng và các ứng dụng công nghiệp khác
Các đối tác trong Lô 06.1 sẽ khai thác bán khí theo các điều khoản của Hợp Đồng Phân Chia Sản Phẩm (PSC). Nhóm đối tác này gồm một số công ty rất có kinh nghiệm trong việc phát triển dự án năng lượng trên thế giới, có những kỹ năng chuyên ngành trong việc phát triển, khai thác và vận chuyển khí đất trong những điều kiện thị trường khí đốt có những đặc thù khác nhau. Nhóm này hiện đang hợp tác chặt chẽ với Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam và các cơ quan hữu trách của Chính phủ để khai thác và phân phối khí càng sớm càng tốt. Thành viên của nhóm gồm: ONGC, BP, Statoil, và Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam.
Các nhà sản xuất:
Dự án phát triển Lô 06.1 tại bể Nam Côn Sơn được đầu tư theo hình thức Hợp đồng Phân Chia Sản phẩm (PSC) với cổ phần của các đối tác như sau:
ONGC Videsh (ONGC-VL) : 45%
ONGC-VL là một công ty trực thuộc Tổng Công ty Dầu mỏ và Khí tự nhiên Ấn Độ (ONGC), của Nhà nước Ấn Độ chuyên thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài. ONGC có nhiều kinh nghiệm trong việc thăm dò, khoan, khai thác và điều hành nhiều mỏ dầu, mỏ khí, các hệ thống đường ống dầu khí và là chuyên gia trong lĩnh vực chế biến khí. ONGC bán khí cho ngành điện, sản xuất phân bón và các ngành trọng điểm khác trong nền kinh tế Ấn Độ.
Công ty Dầu khí Anh Quốc (BP): 26,66%
BP thay mặt các bên tham gia hợp đồng điều hành Lô 06.1. BP là một trong những Công ty Dầu Khí Quốc tế lớn nhất thế giới, hoạt động mạnh trong mọi ngành công nghiệp dầu khí trên 100 quốc gia. BP là người tiên phong trong việc phát hiện và khai thác dầu khí ở nhiều khu vực trọng điềm bao gồm: A-las-ca và Biển Bắc. Việt Nam là một trong những nước trên thế giới mà BP và Statoil liên minh lại để cùng thăm dò dầu khí. Các nơi khác có thể kể đến là Tây Phi và Liên XÔ cũ.
Công ty Dẩu Khí Quốc Gia Na – Uy (Statoil) : 13,34%
Statoil là công ty dầu khí quốc gia lớn nhất Na-uy. Statoil là công ty khai thác dầu khí hàng đầu tại Biển Bắc và điều hành một trong những hệ thống ống dẫn khí ngầm lớn nhất thế giới. Statoil cũng đang khai thác mỏ khí Troll, một trong những dàn khai thác độc lập lớn nhất thế giới. Statoil có mạng lưới khai thác thăm dò không ngừng phát triển trên khắp thế giới.
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam : 15%
NHỮNG THÔNG TIN VỀ DỰ ÁN:
Dự án đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn sẽ được xây dựng nhằm vận chuyển khí thiên nhiên trước mắt là từ hai mỏ Lan Tây và Lan Đỏ ở Lô 06.1 và sau đó từ các mỏ khí khác trong bể Nam Côn Sơn (mỏ Hải Thạch, Rồng Đôi, Mộc Tinh...). Do đó đây là một đường ống khu vực có tổng vốn đầu tư như trong Báo cáo nghiên cứu khả thi đã được các bên tham gia chấp nhận và đang được Hội đồng thẩm định quốc gia đánh giá là 504,9 triệu đô la Mỹ theo giá trị tiền danh nghĩa. Thời gian hoạt động của Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh (BCC) là 35 năm kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư.
Dự án đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn được đầu tư theo hình thức Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh (BCC) với cổ phần của các đối tác như sau:
* Tổng công ty dầu khí Việt Nam chiếm 51%.
* Công ty BP Vietnam Pipeline của Anh quốc chiếm 32,67%.
* Công ty Statoil Vietnam của Na-uy chiếm 16,33%.
Dự án đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn là một phần trong toàn bộ chương trình khai thác khí bao gồm thăm dò và khai thác khí ngoài khơi, vận chuyển và chế biến khí. Dự án Đường ống Dẫn Khí Nam Côn Sơn gồm các hạng mục chính sau:
Qui mô công suất và các thông số kỹ thuật chính của dự án :
- Hệ thống đường ống dẫn khí từ mỏ Lan Tây - Lan Đỏ đến Trạm xử lý khí Dinh Cố: Dài 370 Km (trong đó đoạn trên bờ là 8,5 Km), đường kính 26" (tương đương 660 mm), 2 pha áp suất 160 barg, công suất vận chuyển tùy theo điểm nối khí ngoài khơi mà có thể đạt trong khoảng 650 - 700 triệu bộ khối khí/ngày (tương đương với 18,41 - 19,82 triệu m3 khí/ngày).
- Trạm xử lý khí Dinh Cố: Bao gồm các hệ thống công nghệ, thiết bị đo lường, điều khiển tự động, điện, cấp thoát nước và một số hạng mục phụ trợ khác; công suất xử lý trong giai đoạn đầu là 370 triệu bộ khối khí/ngày (tương đương với 10,4 triệu m3 khối/ngày) và trong giai đoạn mở rộng là 650 - 700 triệu bộ khối khí/ngày (tương đương với 18,41 - 19,82 triệu m3 khí/ngày).
- Hệ thống đường ống dẫn khí từ Trạm xử lý Dinh Cố đến Trung tâm phân phối khí Phú Mỹ: Dài 28 Km, đường kính 30" (tương đương với 762 mm), 1 pha, áp suất 65 barg, công suất vận chuyển trên 800 bộ khối/ngày (tương đương với 22,6 triệu m3/ngày).
- Trung tâm phân phối khí Phú Mỹ: Bao gồm các hệ thống đo lường, kiểm tra, giao nhận khí, và một số hạng mục phụ trợ khác.
Dự kiến công trình đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn sẽ được triển khai thi công khoảng cuối năm 2000 và đưa dòng khí đầu tiên vào bờ trong năm 2002 là khả thi.
Nguồn vốn:
Phần vốn cho giai đoạn đầu của phía nước ngoài là 247,4 triệu USD, trong đó Công ty BP: 165 triệu USD, Công ty Statoil: 82,4 triệu USD, được góp từ vốn nội bộ của các công ty này.
Phần vốn cho giai đoạn đầu của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam là 257,5 triệu USD được thu xếp từ các nguồn vốn sau: vay hợp vốn của các Ngân hàng Thương mại trong nước (70 triệu USD), vay của Ngân hàng Đầu tư Châu Âu (62 triệu USD), từ tiền lãi do dầu Nhà nước để lại cho Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (30 triệu USD), phần còn lại (95,5 triệu USD) vay tín dụng xuất khẩu (ECA) từ các nhà thầu của dự án.
Tổ chức quản lý dự án:
Ngoài các gói thầu đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép chỉ định thầu, đối với các gói thầu chính còn lại tổ chức đấu thầu quốc tế để lựa chọn nhà thầu.
Quyền vận hành dự án Đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn được chuyển giao từ Công ty BP sang cho Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam sau 5 năm (tính từ khi công trình bắt đầu vào khai thác sử dụng) sau khi hoàn tất việc đào tạo các cán bộ Việt Nam đủ trình độ và kinh nghiệm thay thế các chuyên gia nước ngoài.
TÌNH HÌNH THUÊ ĐẤT CỦA DỰ ÁN ĐƯỜNG ỐNG NAM CÔN SƠN:
Thời hạn thuê đất của Trạm tiếp nhận và xử lý khí Nam Côn Sơn và hành lang tuyến ống Nam Côn Sơn sẽ tùy thuộc vào thời hạn của Hợp đồng hợp tác kinh doanh của Dự án đường ống Nam Côn Sơn. Do đó thời hạn thuê đất là 35 năm theo như Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) đã ký sơ bộ (ký tắt) .
Yêu cầu thuê đất của Dự án đường ống Nam Côn Sơn như sau :
a. Trạm tiếp nhận và xử lý khí Nam Côn Sơn tại Dinh Cố.
Sau khi có một số điều chỉnh trong thiết kế ban đầu và qua thực tế khảo sát đất đai, kiểm kê đền bù Trạm, Công ty Chế biến và Kinh doanh các sản phẩm Khí (PVGC) cùng các đối tác nước ngoài đã trình UBND Tỉnh xem xét và đồng ý thỏa thuận lại đất xây dựng Trạm tiếp nhận và xử lý khí Nam Côn Sơn với tổng diện tích là 67,38 hecta (diện tích thỏa thuận cũ là 73.35 hecta) bao gồm:
1. Khu vực xây dựng Trạm cho cả giai đoạn 1 và giai đoạn 2, đường vào Trạm, và hệ thống cống thoát nước mưa với diện tích là 44,53 hecta (diện tích thỏa thuận cũ là 29,25 hecta). Khu vực này sẽ được thuê dài hạn cho tới cuối dời của dự án.
2. Khu vực tạm thời phục vụ xây dựng Trạm, bao gồm:
* Bãi tập kết vật tư, thiết bị trong quá trình thi công: khoảng 21,21 hecta (diện tích thỏa thuận cũ là 37,35 hecta) sẽ được thuê trong một thời gian ngắn trong giai đoạn xây dựng. Thời gian thuê của khu vực này khoảng 2 - 3 năm. Các khu vực này sẽ được xác định lại trên bản đồ thỏa thuận đất của Trạm tiếp nhận và xử lý khí Nam Côn Sơn.
* Cảng và con đường ra cảng với diện tích là 1,64 hecta (diện tích thỏa thuận cũ là 1,6 hecta) phục vụ cho việc vận chuyển vật tư trang thiết bị trong thời gian xây dựng. Khu vực này cũng sẽ được xác định trên bản đồ thỏa thuận đất của Trạm tiếp nhận và xử lý khí Nam Côn Sơn.
b. Hành lang tuyên ống Nam Côn Sơn
Đường ống Nam Côn Sơn sẽ được lắp đặt song song với đường ống Bạch Hổ. Thủ tướng đã chỉ thị cho đường ống Nam Côn Sơn cần đi cùng một hành lang chung với tuyến ống Bạch Hổ theo Công văn số: 3544/DK ký ngày 27/07/1996. Nhưng thực tế sau đó ba đường ống LPG cũng được đặt trong hành lang tuyến ống Bạch Hổ hiện có theo Công văn số 5461/DK do Phó Thủ tướng Ngô Xuân Lộc ký ngày 31/10/1997 và làm cho đường ống Nam Côn Sơn không thể hoàn toàn đặt chung trong hành lang hiện hữu. Do đó Dự án đường ống Nam Côn Sơn sẽ phải mở rộng thêm từ hành lang tuyến ống Bạch Hổ hiện tại ra khoảng 10m chiều ngang cho đoạn từ trạm tiếp nhận và xử lý khí Nam Côn Sơn ở Dinh Cố đến vị trí mà đường ống LPG rời khỏi hành lang tuyến ống Bạch Hổ đi tới Cảng Thị Vải thuộc xã Phước Hòa.
Do vị trí của các đường ống hiện đang nằm trong hành lang tuyến ống Bạch Hổ, đường ống Nam Côn Sơn sẽ không thể hoàn toàn chạy theo một phía của hành lang tuyến ống Bạch Hổ. Vì vậy vị trí của hành lang tuyến ống Nam Côn Sơn sẽ chạy như sau:
* Đoạn thứ nhất: từ Dinh Cố đến Trạm van cạnh quốc lộ 51 thuộc thị trấn Bà Rịa sẽ nằm ở phía Đông (bên phải) của hành lang tuyến ống Bạch Hổ hiện hữu.
* Đoạn thứ hai: từ Trạm van cạnh Quốc lộ 51 thuộc thị trấn Bà Rịa đến vị trí mà đường ống LPG rời khỏi hành lang tuyến ống Bạch Hổ đi tới Cảng Thị Vải thuộc xã Phước Hòa sẽ nằm ở phía Tây (bên trái) của hành lang tuyến ống Bạch Hổ hiện hữu.
Hành lang tuyến ống Nam Côn Sơn sẽ bắt đầu từ Trạm tiếp nhận và xử lý khí Nam Côn Sơn ở Dinh Cố thuộc Xã An Ngãi, đi qua thị trấn Long Điền thuộc Huyện Long Đất, xã Phước Hiệp, Long Hương thuộc thị xã Bà Rịa, xã Hội Bài thuộc huyện Tân Thành và kết thúc ở vị trí mà các đườn ống LPG rời khỏi hành lang tuyến ống Bạch hổ đi tới cảng Thị Vải thuộc xã Phước Hoà, huyện Tân Thành.